Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cầu Thăng Long


LỜI NÓI ĐẦU

Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người để tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần xã hội . Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Lao động là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và là yếu tố quyết định nhất. Chi phí về lao động là một trong các yếu tố chi phí cơ bản cấu thành nên giá trị sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Sử dụng hợp lý lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh là tiết kiệm chi phí về lao động sống góp phần hạ thấp giá thành sản phẩm, tăng doanh lợi cho doanh nghiệp và là điều kiện để cải thiện nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho CNV, người lao động trong doanh nghiệp.
Tiền lương (hay tiền công) là một phần sản phẩm xã hội được Nhà nước phân phối cho người lao động một cách có kế hoạch, căn cứ vào kết quả lao động mà mỗi người cống hiến cho xã hội biểu hiện bằng tiền nó là phần thù lao lao động để tái sản xuất sức lao động bù đắp hao phí lao động của công nhân viên đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tiền lương gắn liền với thời gian và kết quả lao động mà công nhân viên đã thực hiện, tiền lương là phần thu nhập chính của công nhân viên. Trong các doanh nghiệp hiện nay việc trả lương cho công nhân viên có nhiều hình thức khác nhau, nhưng chế độ tiền lương tính theo sản phẩm đang được thực hiện ở một số doanh nghiệp là được quan tâm hơn cả. Trong nội dung làm chủ của người lao động về mặt kinh tế, vấn đề cơ bản là làm chủ trong việc phân phối sản phẩm xã hội nhằm thực hiện đúng nguyên tắc “phân phối theo lao động” . Thực hiện tốt chế độ tiền lương sản phẩm sẽ kết hợp được nghĩa vụ và quyền lợi, nêu cao ý thức trách nhiệm của cơ sở sản xuất, nhóm lao động và người lao động đối với sản phẩm mình làm ra đồng thời phát huy năng lực sáng tạo của người lao động, khắc phục khó khăn trong sản xuất và đời sống để hoàn thành kế hoạch. Trong cơ chế quản lý mới hiện nay thực hiện rộng rãi hình thức tiền lương sản phẩm trong cơ sở sản xuất kinh doanh có ý nghĩa quan trọng cho các doanh nghiệp đi vào làm ăn có lãi, kích thích sản xuất phát triển.
Ngoài tiền lương (tiền công) để đảm bảo tái tạo sức lao động và cuộc sống lâu dài của người lao động, theo chế độ tài chính hiện hành doanh nghiệp còn phải vào chi phí sản xuất kinh doanh một bộ phận chi phí gồm các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn.
Trong đó, BHXH được trích lập để tài trợ cho trường hợp công nhân viên tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, mất sức, nghỉ hưu... Bảo hiểm y tế để tài trợ cho việc phòng, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ của người lao động. Kinh phí công đoàn chủ yếu để cho hoạt động của tổ chức của giới lao động chăm sóc, bảo vệ quyền lợi của người lao động. Cùng với tiền lương (tiền công) các khoản trích lập các quỹ nói trên hợp thành khoản chi phí về lao động sống trong giá thành sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Từ vai trò, ý nghĩa trên của công tác tiền lương, BHXH đối với người lao động. Với kiến thức hạn hẹp của mình, em mạnh dạn nghiên cứu và trình bày chuyên đề: “Hoàn thiện kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cầu I Thăng Long”.
Trong thời gian đi thực tế để viết chuyên đề tại Công ty cầu I Thăng Long, em được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô các chú trong công ty đặc biệt là các cô các chú phòng tổ chức lao động cùng với phòng kế toán. Bên cạnh đó, là sự hướng dẫn, tận tình có trách nhiệm của thầygiáo Nguyễn Viết Tiến và sự cố gắng nỗ lực của bản thân để hoàn thành chuyên đề này.

kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở Xí nghiệp Thoát nước số 3 thuộc Công ty Thoát nước Hà Nội


LỜI NÓI ĐẦU

Một doanh nghiệp, một xã hội được coi là phát triển khi lao động có năng suất, có chất lượng, và đạt hiệu quả cao. Như vậy, nhìn từ góc độ "Những vấn đề cơ bản trong sản xuất" thì lao động là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nhất là trong tình hình hiện nay nền kinh tế bắt đầu chuyển sang nền kinh tế tri thức thì lao động có trí tuệ, có kiến thức, có kỹ thuật cao sẽ trở thành nhân tố hàng đầu trong việc tạo ra năng suất cũng như chất lượng lao động. Trong quá trình lao động người lao động đã hao tốn một lượng sức lao động nhất định, do đó muốn quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục thì người lao động phải được tái sản xuất sức lao động. Trên cơ sở tính toán giữa sức lao động mà người lao động bỏ ra với lượng sản phẩm tạo ra cũng như doanh thu thu về từ lượng những sản phẩm đó, doanh nghiệp trích ra một phần để trả cho người lao động đó chính là tiền công của người lao động (tiền lương).
Tiền lương mà doanh nghiệp trả cho người lao động được dùng để bù đắp sức lao động mà người lao động đã bỏ ra. Xét về mối quan hệ thì lao động và tiền lương có quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau.
Như vậy, trong các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, yếu tố con người luôn đặt ở vị trí hàng đầu. Người lao động chỉ phát huy hết khả năng của mình khi sức lao động mà họ bỏ ra được đền bù xứng đáng dưới dạng tiền lương. Gắn với tiền lương là các khoản trích theo lương gồm Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí Công đoàn. Đây là các quỹ xã hội thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội đến từng người lao động.
Có thể nói rằng, tiền lương và các khoản trích theo lương là một trong những vấn đề được cả doanh nghiệp và người lao động quan tâm. Vì vậy việc hạch toán, phân bổ chính xác tiền lương cùng các khoản trích theo lương vào giá thành sản phẩm sẽ một phần giúp cho doanh nghiệp có sức cạnh tranh trên thị trường nhờ giá cả hợp lý. Qua đó cũng góp cho người lao động thấy được quyền và nghĩa vụ của mình trong việc tăng năng suất lao động, từ đó thúc đẩy việc nâng cao chất lượng lao động của doanh nghiệp. Mặt khác việc tính đúng, tính đủ và thanh toán kịp thời tiền lương cho người lao động cũng là động lực thúc đẩy họ hăng say sản xuất và yên tâm tin tưởng vào sự phát triển của doanh nghiệp.
Là một doanh nghiệp Nhà nước, nên đối với Công ty Thoát nước Hà Nội việc xây dựng một cơ chế trả lương phù hợp, hạch toán đủ và thanh toán kịp thời nhằm nâng cao đời sống, tạo niềm tin, khuyến khích người lao động hăng say làm việc là một việc rất cần thiết luôn được đặt ra hàng đầu. Nhận thức được vấn đề trên, trong thời gian thực tập tại Xí nghiệp thoát nước số 3 thuộc Công ty Thoát nước Hà Nội tôi đã chọn đề tài: "Tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở Xí nghiệp Thoát nước số 3 thuộc Công ty Thoát nước Hà Nội".
Chuyên đề gồm 3 phần:
Phần I: Những lý luận cơ bản về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở doanh nghiệp.
Phần II: Tình hình tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở Xí nghiệp thoát nước số 3 trực thuộc Công ty Thoát nước Hà Nội.
Phần III: Đánh giávề tổ chức kế toán của Xí nghiệp Thoát nước số 3 thuộc Công ty Thoát nước Hà Nội.
Trong quá trình thực tập nghiên cứu, sưu tầm tài liệu tôi được sự quan tâm hướng dẫn tận tình của thầy giáo Chu Thành, được sự giúp đỡ của toàn thể cán bộ nhân viên phòng Thống kê kế toán Xí nghiệp thoát nước số 3 thuộc Công ty thoát nước Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành chuyên đề này. Tôi xin chân thành cảm ơn và mong nhận được sự góp ý để nâng cao thêm chất lượng của đề tài.

Vốn cố định công ty TNHH in và thương mại Nhật Sơn


LỜI MỞ ĐẦU
         
Chu trình tái sản xuất xã hội gồm các khâu sản xuất -> phân phối -> trao đổi ->tiêu dùng. Trong đó sản xuất đóng vai trò quyết định cho quá trình tồn tại kinh doanh của doanh nghiệp, ngoài ra sản xuất còn đáp ứng nhu cầu của thị trường cụ thể là người tiêu dùng. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có một hệ thống quản lý thích hợp để theo dõi hoạt động của doanh nghiệp để từ đó có các biện pháp phương hướng đúng đắn. Trong hệ thống việc quản lý và sử dụng vốn có vai trò quan trọng , nó giúp nắm rõ được tình hình tài chính của doanh nghiệp hiện hành và quá khứ. Nhận thấy được tầm quan trọng trên, kết hợp với kiến thức đã học và quá trình thực tập tại công ty TNHH in và thương mại Nhật Sơn cùng với sự giúp đỡ của thầy giáo Đoàn Trần Nguyên. Em đã thực hiện báo cáo tốt nghiệp với đề tài “Vốn cố định”. Vì trong nghiên cứu còn hạn chế do đó trong quá trình xem xét không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của thầy giáo, các cán bộ lãnh đạo nghiệp vụ ở công ty để đề tài này được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn.

Vốn bằng tiền Công ty Tư Vấn Xây Dựng và Phát Triển Nông Thôn

LỜI NÓI ĐẦU
“Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với sản xuất” đó là phương châm giáo dục và đào tạo của Đảng ta, của nhà trường Xã hội chủ nghĩa chúng ta.
Từ những yêu cầu cơ bản đó, sau khi được học xong phần lý thuyết về chuyên ngành kế toán, lãnh đạo nhà trường đã cho sinh viên thâm nhập thực tế nhằm củng cố vận dụng những lý luận đã học được vào sản xuất, vừa nâng cao năng lực tay nghề chuyên môn, vừa làm chủ được công việc sau này khi tốt nghiệp ra trường về công tác tại cơ quan, xí nghiệp có thể nhanh chóng hoà nhập và đảm đương các nhiệm vụ được phân công.
Là một sinh viên chuyên nghành kế toán, trong thời gian thực tập tại công ty , được sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn Lê Thị Ánh Tuyết và của Quý công ty , em đã quan tâm tìm hiểu về hoạt động của công ty đặc biệt là về công tác kế toán tại công ty và mạnh dạn chọn đề tài : Kế Toán Vốn Bằng Tiền
Với đề tài này em đã tìm hiểu nghiên cứu và rút ra những kinh nghiệm hiểu biết cho bản thân đồng thời mạnh dạn bày tỏ một vài ý kiến hy vọng có thể giúp ích cho hoạt động kế toán của công ty trong thời gian tới.
Nội dung của báo cáo này ngoài Lời mở đầu và Kết luận, chuyên đề gồm 3 chương chính :
Chương 1: Tổng quát về tình hình sản xuất kinh doanh và công tác kế toán của Công ty Tư Vấn Xây Dựng và Phát Triển Nông Thôn
Chương 2: Chuyên đề kế toán vốn bằng tiền.
Chương 3: Một số ý kiến nhận xét về công tác kế toán Vốn bằng tiền ở Công ty Tư Vấn Xây Dựng và Phát Triển Nông Thôn.
Vì thời gian thực tập ở công ty có hạn và do còn thiếu kinh nghiệm nên có thể báo cáo này của em còn chưa được tốt. Rất mong được các thầy cô giáo và Quý công ty Tư Vấn Xây Dựng Và Phát Triển Nông Thôn góp ý kiến để báo cáo được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cám ơn cô giáo hướng dẫn Lê Thị Ánh Tuyết và ông Phạm Danh Thuyên- giám đốc công ty Tư Vấn Xây Dựng Và Phát Triển Nông Thôn cùng tập thể nhân viên phòng kế toán- tài chính của công ty đã giúp đỡ em để hoàn thành báo cáo này.

Quản lý vốn Lưu động tại CTy Thương mại Xây DỰng Sóc sơn


LỜI NÓI ĐẦU
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đả đưa đất nước ta từ nền kinh tế mang nặng tính tự cung tự cấp với cơ chế quan liêu bao câpsang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Công cuộc đổi mới đang đặt ra cho các doanh nghiệp thương mại nhiều thách thức bởi lĩnh vực kinh doanh thương maịo đang từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và quốc tế. Sự cạnh tranh và khát vọng lợi nhuận đã trở thành động lực thôi thúc các DN tăng cường đổi mới thiết bị công nghệ. Đầu tư vào những ngành  nghề mới và chiễm lĩnh thị trường. Tình hình trên đã làm gia tăng nhu cầu vốn trong nền kinh tế. Chính vì vậy các doanh nghiệp cần phải  có một lượng vốn nhất định  bao gồm vốn cố định vốn lưu động và vốn chuyển dụng khác. Qua đó việc sử dụng vốn  tiết kiệm  và hiệu quả  hiệu quả được  coi là điều kiện tồn tại  và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Phải luôn nắm bắt được tình hình sử dụng vốn ta phải tiến hành phân tích tài chính đề xác định vốn.
Vì vậy nhu cầu vốn ( vốn cố định vốn lưu động và vốn chuyển động khác) trong mỗi doanh nghiệp là rất cần thiết để tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Việc thường xuyên tiến hành phân tích tài chính tại các doanh nghiệp sẽ giúp  cho bộ phận  điều hành, nẵm rõ được ưu nhược điểm  trong công tác quản lý vốn của mình để tự do có các biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty.
Qua thời gian thực tập tại công ty cổ phần thương mại –xây dựng Sóc Sơn sau khi tìm hiểu và nhận thấy tầm quan trọng  của vốn trong công ty, em  đã chọn đề tài “Tổ chức công tác quản lý vốn lưu động trong công ty thương mại –xây dựng Sóc Sơn.”. Tuy nhiên do có những hạn chế  nhất định, bản báo cáo chắc chắn không trách khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được ý kiến nhận xét cua các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và các cô chú trong công ty để hoàn thiện hơn nữa báo cáo của em.

Báo cáo gồm 3 phần

Phần I :  Lịch sử hình thành và phát triển của công ty.
Phần II: Thực trạng về công tác quản lý vốn lưu động  tại công ty cổ phần thương mại –xây dựng Sóc Sơn.
Phần III: Một số ý kiến và phương hướng  hoàn thiện công tác quản lý vốn lưu động tại công ty cổ phần thương mại –xây dựng Sóc Sơn.
Trong quá trình nghiên cứu em xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ tận tình của cô Lê Kim Anh và ban quản lý vốn của công ty .


Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động Vinaconex 122


LỜI NểI ĐẦU

Nhiều nhà phân tích tài chính đó vớ tài sản lưu động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường như dũng mỏu tuần hoàn trong cơ thể con người. Tài sản lưu động được ví như vậy có lẽ bởi sự tương đồng về tính tuần hoàn và sự cần thiết của tài sản lưu động đối với "cơ thể" doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp muốn hoạt động thỡ khụng thể khụng cú vốn. Vốn của doanh nghiệp núi chung và tài sản lưu động nói riêng có mặt trong mọi khâu hoạt động của doanh từ: dự trữ, sản xuất đến lưu động. Tài sản lưu động giúp cho doanh nghiệp tồn tại và hoạt động được trơn tru, hiệu quả.
Tuy nhiên do sự vận động phức tạp và trỡnh độ quản lý tài chớnh cũn hạn chế ở nhiều doanh nghiệp Việt Nam, tài sản lưu động chưa được quản lý, sử dụng cú hiệu quả dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không cao. Trong quá trỡnh thực tập tại Cụng ty Cổ phần xõy dựng số  12 em nhận thấy đây là một vấn đề thực sự nổi cộm và rất cần thiết ở công ty, nơi có tỷ trọng tài sản lưu động lớn với nhiều hoạt động sản xuất quy mô lớn, phức tạp, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động đang là một chủ đề mà công ty rất quan tâm.
Với nhận thức như vậy, bằng những kiến thức quý bỏu về tài chớnh doanh nghiệp, tài sản lưu động tích lũy được trong thời gian học tập, nghiên cứu tại trường, cùng thời gian thực tập thiết thực tại Công ty cổ phần xây dựng số 12 em đó chọn đề tài: "Một số giải phỏp nhằm nõng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại Cụng ty cổ phần xõy dựng số 12 - Vinaconex" làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Chuyên đề gồm có 3 chương:
Chương I: Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Chương II: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại Cụng ty cổ phần xõy dựng số 12 - Vinaconex.
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại Cụng ty cổ phần xõy dựng số 12 - Vinaconex.
Đề tài là một dịp để em có thể gắn bó kiến thức đó học tại trường với thực tiễn. Đây là một bài viết  có nội dung khá lớn, phong phú và có liên quan đến nhiều vấn đề, mặc dù đó được sự hướng dẫn chu đáo, tận tỡnh của cụ giỏo Ths.Trần Thị Thanh Tú nhưng do trỡnh độ có hạn nên trong bài viết của em vẫn cũn nhiều thiếu sút khụng thể trỏnh khỏi, em rất mong nhận được sự giúp đỡ, góp ý từ phía Công ty cổ phần xây dựng số 12 - Vinaconex. để chuyên đề của em có thể hoàn thiện hơn cũng như giúp em hiểu sâu hơn về đề tài mà mỡnh đó lựa chọn.


Kế toán vốn lưu động cty Mây tre đan xuất khẩu


LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm qua cùng với sự phát triển của đất nước, của toàn nhân loại, dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đang từng ngày, từng giờ khắc phục mọi khó khăn quyết tâm hoàn thành đổi mới nền kinh tế đất nước, nhằm nhanh chóng phát triển nền kinh tế Việt Nam sớm hoà nhập cùng nền kinh tế các quốc gia trong khu vực. Thực tế sau nhiều năm thực hiện sự chuyển dịch kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đến nay, bộ mặt của nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn. Và trở thành một nền kinh tế có tốc độ phát triển cao.
Hạch toán kế toán là một trong những công cụ quản lý kinh tế tài chính của các đơn vị cũng như trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Ra đời và phát triển cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, hệ thống hàng hoá tiền tệ. Cho nên hệ thống hạch toán kế toán phải phù hợp đáp ứng được yêu cầu từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế sản xuất xã hội, xuất phát từ thực tế trên lý thuyết đi đôi với thực hành cho nên việc xuống cơ sở thực tập là hết sức cần thiết.
Trong nền kinh tế hiện nay muốn sản xuất ra nhiều của cải vật chất cũng như việc kinh doanh của các doanh nghiệp có hiệu quả đều không thể thiếu được "Vốn lưu động". Đó là mối quan tâm hàng đầu của mọi doanh nghiệp, quản lý chặt chẽ vốn lưu động là điều kiện tăng hiệu quả sử dụng vốn lưu động, bảo vệ chặt chẽ ngăn ngừa các hiện tượng lãng phí tham ô tài sản của các đơn vị.
Ngoài việc liên quan tới nguồn tài chính quốc gia xuất phát từ tầm quan trọng của "vốn lưu động" qua khảo sát thực tế tại "Công ty mây tre xuất khẩu".
Em đã nhận được sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình tỷ mỷ của thầy (cô) giáo hướng dẫn và cơ quan thực tập. Cho nên em đã nghiên cứu và chọn đề tài "Quản lý và hiệu quả sử dụng vốn lưu động".
Báo cáo này gồm 3 phần chính:
Phần thứ nhất: Khái quát chung về Công ty
Phần thứ hai: Thực trạng và hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Phần thứ ba: Một số giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.


Công tác quản lý vốn cố định tại Công ty cơ giới và xây lắp số 13


LỜI MỞ ĐẦU

Trong bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có một lượng vốn kinh doanh nhất định. Vốn kinh doanh sẽ quyết định đến quy mô cũng như mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Trong đó vốn cố định lại đóng vai trò quan trọng trong vốn kinh doanh. Vì vậy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, công nghệ, vốn cố định trong các doanh nghiệp không ngừng tăng lên và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong vốn kinh doanh. Quy mô vốn cố định nhiều hay ít sẽ ảnh hưởng đến trình độ trang bị kỹ thuật, công nghệ cũng như năng lực sản xuấtkinh doanh của một doanh nghiệp và quyết định tới năng xuất loa động, chất lượng sản phẩm.
Việc khai thác sử dụng vốn cố định hợp lý sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, tăng khả năng cạnh tranh và lợi nhuận của doanh nghiệp, làm thế nào để vốn cố định được sử dụng có hiệu quả là một khâu trọng tâm trong công tác quản lý, sử dụng và bảo toàn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Trong thời gian qua, xung quanh vấn đề này có nhiều ý kiến đóng góp và thu được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vướng mắc đòi hỏi cần phải tiếp tục tìm kiếm phương hướng hoàn thiện.
Xuất phát từ yêu cầu trên, trong quá trình thực tập tại Công ty cơ giới và xây lắp số 13, trên cơ sở những kiến trức và thực tế tích luỹđược em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Công tác quản lý vốn cố định tại Công ty cơ giới và xây lắp số 13” làm đề tài báo cáo quản lý của mình.
 Báo cáo thực tập gồm ba phần :
 Phần I : Những vấn đề cơ bản về vốn và vai trò của vốn trong SXKD
 Phần II : Thực trạng công tác quản lý vốn cố định doanh nghiệp
 Phần III :Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DN


kế toán nghiệp vụ vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán” tại công ty Quản lí bến xe Hà Tây


LỜI NÓI ĐẦU


 “Học đi đôi với hành” giáo dục kết hợp với sản xuất đó là phương châm giáo dục và đào tạo của Đảng, của nhà trường của chủ nghĩa xã hội chúng ta.
Từ những yêu cầu cơ bản đó,  sau khi được học xong phần lí thuyết về chuyên đề  ngành kế toán, lãnh đạo nhà trường đã cho sinh viên thâm nhập vào thực tế, nhằm củng cố vận dụng những lí thuyết về chuyên ngành kế toán đã học đưa vào sản xuất, vừa nâng cao năng lực tay nghề chuyên môn, vừa làm chủ được công việc sau này  sau khi tốt nghiệp ra trường về công tác tại cơ quan xí nghiệp để có thể nắm bắt, hoà nhập và đảm đang các nhiệm vụ được phân công. Cùng với sự phát triển không ngừng  của ngành giao thông vận tải cả nước, nhằm đáp ứng nhu càu đi lại của  nhân dân trong nền kinh tế thị trường tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh vận tải hành khách bằng ô tô phát triển, việc thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh cùng với các chỉ tiêu kinh tế có nhiều thuận lợi, cho nên có thể nói rằng công tác kiểm soát hạch toán kế toán. Đặc biệt kế toàn “vốn bằng tiền” của công ty đóng một phần vai trò quan trọng bởi do đặc thù, chức năng nhiệm vụ trong nền sản xuất kinh tế vĩ mô.
Trên cơ sở đó cùng với sự hướng dẫn của cô giáo Hoàng Thị  Hồng Lê và Cô Nguyễn Kim Hạnh  em đã chọn đề tài “kế toán nghiệp vụ vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán” tại công ty Quản lí  bến xe Hà Tây nhằm bổ sung kiến thức học trên lớp đi vào thực tế và cho báo cáo tốt nghiệp của mình. Nội dung chuyên đề này ngoài lời mở đầu và kết luận chuyên đề gồm 4 chương chính:

Chương I: Cơ sở lý luận chung kế toán vốn bằng tiền và các khoan phảI thanh toán tai công ty quan lý bến xe Hà  Tây.
Chương II: Thực trạng công tác kế toán vốn bằng tiền và các khoản phảI thanh toán tai công ty quản lý bến xe Hà Tây.
Chương III: Đánh giá khái quát công tác kế toán tại công ty  quản lý bến xe Hà Tây.
Chương IV:Một số kiến nghị,đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán tại công ty quản lý bến xe Hà Tây.
Với thời gian thực tập có hạn và số liệu thực tế chưa nhiều, đặc biệt là kinh nghiệm phân tích của em chưa được sâu sắc. Vì vậy trong báo cáo thực tế trong báo thực tế không thể tránh khỏi những sai lầm thiếu sót, kính mong thầy cô giáo và nhà trường góp ý sửa chữa để em hoàn thành một cách tốt đẹp hơn.


Kế toán nghiệp vụ vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán


LỜI  MỞ   ĐẦU

    Sau khi được học xong phần lý thuyết về chuyên ngành kế toán, lãnh đạo nhà trường đã cho sinh viên thâm nhập thực tế nhằm củng cố vận dụng những lý luận đã học được vào sản xuất, vừa nâng cao năng lực tay nghề chuyên môn, vừa làm chủ được công việc sau này khi tốt nghiệp ra trường về công tác tại cơ quan, xí nghiệp có thể nhanh chóng hoà nhập và đảm đương các nhiệm vụ được phân công.
     Sau thời gian thực tập tại Công ty Cơ khí ôtô 3-2, em đã tìm hiểu, phân tích, đánh giá những kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty, đồng thời so sánh với lý thuyết đã học được trong nhà trường để rút ra những kết luận cơ bản trong sản xuất kinh doanh đó là lợi nhuận. Muốn có lợi nhuận cao phải có phương án sản xuất hợp lý, phải có thị trường mở rộng, giá cả hợp lý và đặc biệt phải có vốn đầu tư bằng tiền phù hợp.
     Trên cơ sở đó em đã chọn đề tài “Kế toán nghiệp vụ vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán” cho báo cáo tốt nghiệp này.
     Nội dung của chuyên đề này ngoài Lời mở đầu và Kết luận, chuyên đề gồm 3 chương chính :
        Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác kế toán “Vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán “ trong công ty xây lắp .
        Chương 2: Thực trạng công tác kế toán “Vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán “ ở Công ty Cơ khí ôtô 3-2.
        Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán “Vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán “ ở Công ty Cơ khí ôtô 3-2.
     Với thời gian thực tập có hạn và số liệu thực tế chưa nhiều, đặc biệt là kinh nghiệm phân tích đánh giá của em chưa được sâu sắc. Vì vậy trong báo cáo không thể tránh khỏi những sai lầm thiếu sót, kính mong các thầy cô giáo và nhà trường góp ý sửa chữa để em hoàn thành công việc một cách tốt đẹp hơn. 
     Nhân dịp này em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới ban lãnh đạo Công ty Cơ khí ôtô 3-2 đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong thời gian thực tập tại công ty. Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các bác, các cô, các  chú, các anh chị trong Công ty Cơ khí ôtô 3-2 đã nhiệt tình giúp đỡ về mặt thực tiễn và cung cấp cho em những tài liệu quan trọng làm cơ sở nghiên cưú chuyên đề ,giúp em hoàn thành báo cáo này.
     Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Cao đẳng kỹ thuật công nghiệp 1 và đặc biệt là cô giáo Nguyễn Ngọc Lan đã tận tình hướng dẫn, dậy bảo, giúp đỡ em hoàn thành báo cáo chuyên đề này.

Kế toán vốn bằng tiền