Kế toán bán hàng Cty Thực Phẩm Hà Tây
LỜI
NÓI ĐẦU
Nói đến nền kinh tế thị
trường là nói đến tính cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp khi tham gia vào
nền kinh tế thị trường phải độc lập tự chủ, tìm cho mình một hướng đi riêng
nhằm thích nghi được với thị trường đồng thời cũng phải tối đa hoá lợi nhuận
của doanh nghiệp. Bên cạnh việc tối thiểu hoá đầu vào doanh nghiệp cần phải chú
ý, quan tâm đến khâu tiêu thụ nhằm tối đa hoá đầu ra. Có thể nói tiêu thụ là
một trong những khâu quan trọng nhất của hoạt động sản xuất kinh doanh nói
chung và của chu kỳ sản xuất kinh doanh nói riêng. Như Ăng-ghen đã nói “ Tiêu thụ không chỉ đơn thuần là kết quả của
sản xuất, đến lượt nó, nó cũng tác động trở lại sản xuất ” bởi vì chỉ có thông
qua tiêu thụ, mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp mới được thực hiện, doanh
nghiệp có doanh thu để một mặt bù đắp những chi phí sản xuất kinh doanh đã bỏ
ra, mặt khác có tích luỹ để đầu tư vào tái sản xuất ở chu kỳ sau. Chu kỳ sau
quy mô sản xuất được quyết định mở rộng, giản đơn hay thu hẹp thì được căn cứ
trực tiếp vào sản lượng tiêu thụ của kỳ trước. Có thể nói rằng hoạt động tiêu
thụ là thước đo sự phát triển của doanh nghiệp đăch biệt là các doanh nghiệp
sản trong điều kiện nền kinh tế thị trường như hiện nay.
Kế toán nghiệp vụ tiêu thụ cung cấp các nguồn
thông tin, số liệu về tình hình tiêu thụ sản phẩm giúp các nhà quản lý của
doanh nghiệp nắm được tình hình tiêu thụ trên cơ sở đó đưa ra các quyết định
kinh doanh đúng đắn và phù hợp nhằm mang lại hiệu quả kinh doanh cao nhất cho
doanh nghiệp.
Công ty Liên Hợp Thực Phẩm Hà Tây là công ty sản
xuất lương thực thực phẩm đầu ngành của Sở Công nghiệp tỉnh Hà tây. Do đặc
trưng về sản phẩm là các mặt hàng bánh kẹo, bia, rượu ... có thời gian sử dụng
ngắn, thị trường cạnh tranh cao nên công tác tiêu thụ và quản lý tiêu thụ luôn
được quan tâm chú trọng, kế toán tiêu thụ thành phẩm là một trong những phần
hành chính của công tác kế toán của công ty.
Nhận thức được tầm quan trọng của kế toán tiêu
thụ thành phẩm trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh
nghiệp sản xuất, kết hợp giữa lý luận về quá trình hạch toán nghiệp vụ tiêu thụ
thành phẩm và tình hình thực tế về hạch toán nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm tại
Công ty Liên Hợp Thực Phẩm Hà Tây em đã chọn nghiên cứu đề tài: “Hoàn
thiện kế toán nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm tại Công ty Liên Hợp Thực Phẩm Hà
Tây ”.
Nội dung luận văn tốt nghiệp của em gồm các
chương sau:
Chương I: Lý luận chung về kế toán nghiệp vụ
tiêu thụ thành phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất.
Chương II: Thực trạng kế toán tiêu thụ thành
phẩm tại Công ty Liên Hợp Thực Phẩm Hà Tây.
Chương III: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện kế
toán nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm ở Công ty Liên Hợp Thực Phẩm Hà Tây.
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ
TOÁN TIÊU THỤ THÀNH PHẨM
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN
XUẤT
I/ Lý luận chung về kế
toán tiêu thụ thành phẩm ở các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nền kinh
tế thị trường.
1. Đặc điểm nền kinh tế
thị trường:
Lịch sử ra đời và phát triển thị trường luôn gắn
liền với việc xuất hiện và phát triển của sản xuất hàng hoá, tức là luôn gắn
liền với quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, ở đâu có sản xuất hàng hoá
thì ở đó có thị trường. Thị trường là nơi thể hiện tập trung nhất các mâu thuẫn
của sản xuất hàng hoá, là mục tiêu khởi điểm của quá trình kinh doanh và cũng
là nơi kết thúc của quá trình kinh doanh . Thị trường cũng có thể hiểu là lĩnh
vực trao đổi, mua bán mà ở đó các chủ thể kinh tế cạnh tranh với nhau với mục
đích là để tìm kiếm lợi nhuận và giành ưu thế về mình theo các quy luật của sản
xuất và lưu thông.
Mỗi hình thái kinh tế có cơ chế hoạt động tương
ứng, nền kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường
ở đó sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai được quy định thông
qua thị trường. Trong thị trường giá cả thị trường là phạm trù trung tâm, là
bàn tay vô hình điều tiết nền sản xuất xã hội kích thích sản xuất, thông qua
giá cả thị trường thực hiện chức năng điều tiết và kích thích của mình. Cung
cầu là phạm trù kinh tế lớn bao trùm thị trường, quan hệ cung cầu trên thị
trường là yếu tố quan trọng nhất và trực tiếp quyết định giá cả thị trường.
Kinh tế thị trường chính là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá, kinh
tế hàng hoá phát triển điều đó có nghĩa là phạm trù hàng hoá, phạm trù tiền tệ
và thị trường được phát triển và mở rộng.
Hàng hoá không chỉ bao gồm những sản phẩm đầu ra
của sản xuất mà còn bao gồm cả các yếu tố đầu vào của sản xuất. Dung lượng thị
trường và cơ cấu thị trường được mở rộng và hoàn thiện, mọi hoạt động kinh tế
trong thị trường đều được tiền tệ hoá khi đó người ta gọi kinh tế hàng hoá là
kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường có các đặc trưng cơ bản sau:
Một là : Tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất
cao. Các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường bao gồm các doanh nghiệp,
các hộ kinh doanh, các cá nhân và cả Nhà nước, họ tham gia vào thị trường và
phải tự bù đắp những chi phí và tự chịu trách nhiệm đối với kết quả sản xuất
kinh doanh của mình. Các chủ thể kinh tế được tự do liên kết liên doanh, tự do
tổ chức quá trình sản xuất theo luật định. Đây chính là đặc trưng quan trọng
nhất của kinh tế thị trường.
Hai là : Giá cả được xác định ngay trên thị
trường. Theo lý luận của Mác thì giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị
hàng hoá, mà giá trị hàng hoá lại là sự kết tinh của hao phí lao động xã hội
cần thiết. Song trên thực tế, giá cả ngoài sự
quyết định của giá trị hàng hoá ra còn chịu ảnh hưởng khá lớn bởi quan
hệ cung cầu, sự biến động của quan hệ cung cầu kéo theo sự biến động của giá cả
và ngược lại. Như vậy, trong nền kinh tế thị trường giá cả là phạm trù kinh tế
trung tâm, vừa là chiếc “phong vũ biểu” phản ánh tình trạng của thị trường, lại
vừa là công cụ thông qua cung cầu để điều tiết hoạt động của các chủ thể kinh
tế.
Ba là : Khách hàng giữ một vai trò quan trọng
trong nền kinh tế thị trường. Các doanh nghiệp muốn bán được nhiều hàng hoá và
thu được nhiều lợi nhuận thì trước hết phải hướng vào khách hàng, phải coi
“khách hàng là thượng đế ”, phải tìm hiểu nhu cầu thị hiếu của họ, sản xuất và
bán cái mà khách hàng cần chứ không phải cái mà mình có. Để thu hút được ngày
càng nhiều khách hàng về phía mình thì doanh nghiệp cũng cần phải thường xuyên
cải tiến thay đổi mẫu mã sản phẩm, nâng cao chất lượng hàng hoá cho phù hợp với
nhu cầu ngày càng cao của khách hàng
Bốn là : Cạnh tranh là một yêu cầu tất yếu của
kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường mọi động lực của cạnh tranh
suy đến cùng đều xuất phát từ lợi ích kinh tế, nó tồn tại trên cơ sở những đơn
vị sản xuất hàng hoá độc lập và khác nhau về lợi ích kinh tế, trong cuộc cạnh
tranh đó tất yếu có người được kẻ thua. Nếu lợi nhuận thúc đẩy các cá nhân thì
cạnh tranh lại bắt buộc họ thúc đẩy họ phải điều hành các hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả tốt nhất. Trước yêu cầu đó, muốn thu
được nhiều lợi nhuận buộc các đơn vị sản xuất và kinh doanh phải đua nhau tối
ưu hoá đầu vào, cải tiến kĩ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất để nâng
cao năng suất lao động nhằm hạ giá thành sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ xuống
nhưng không vượt ra khỏi khuôn khổ của pháp luật. Trong nền kinh tế thị trường
cạnh tranh là một yêu cầu tất yếu, doanh nghiệp nếu không thích ứng được với
quy luật cạnh tranh thì sẽ bị loại bỏ và dẫn đến phá sản.
Tuy nhiên bên cạnh những đặc điểm trên có thể
coi là những ưu điểm của nền kinh tế thị trường thì vẫn còn tồn tại một số
nhược điểm đó là tình trạng phân hoá giầu nghèo, lạm phát, khủng hoảng nền kinh
tế, thất nghiệp ...ngày càng tăng, do chạy theo lợi nhuận nên việc khai thác và
sử dụng tài nguyên một cách vô tội vạ, phá huỷ môi trường. Cạnh tranh là động
lực của nền kinh tế song bản thân cạnh tranh lại cũng chứa đựng những nhân tố
tạo ra sự đối lập với nó, đó là độc quyền, mà độc quyền chính là cơ sở để làm
nảy sinh những quan hệ cạnh tranh không lành mạnh, gây thiệt hại cho người tiêu
dùng và xã hội. Chính vì những nhược điểm này nên rất cần có sự can thiệp, điều
tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế.
Hiện nay Nhà nước ta đang xây dựng một nền kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó là một yêu cầu khách quan
nhằm phát triển lực lượng sản xuất qua đó phù hợp với xu thế của thời đại và
phù hợp với nguyện vọng của nhân dân ta.
2. Đặc điểm kế toán nghiệp vụ tiêu thụ
thành phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.
Tiêu thụ thành phẩm là giai đoạn cuối cùng của
quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp sản xuất, là giai đoạn có tính
quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp . Thành phẩm mà doanh
nghiệp sản xuất ra bán được nhiều sẽ bù đắp được những chi phí doanh nghiệp bỏ
ra, giúp doanh nghiệp thu hồi lại vốn để tiếp tục tái sản xuất sản phẩm đem lại
hiệu quả sản xuất kinh doanh và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó doanh
nghiệp mới có điều kiện để nâng cao và phát triển sản xuất cả về chiều rộng lẫn
chiều sâu. Ngược lại, nếu sản phẩm sản xuất ra không được thị trường chấp nhận
, không bán được sẽ gây ứ đọng vốn, dẫn đến sản xuất bị ngưng trệ, quay vòng
vốn chậm, không có vốn để tiếp tục quá trình tái sản xuất ... Nếu tình trạng đó
không được khắc phục, lâu ngày sẽ dẫn doanh nghiệp đến bờ vực của sự phá sản.
Do vậy, với bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn đứng vững trên thị trường phải
luôn xác định được khả năng của doanh nghiệp mình, doanh nghiệp sẽ kinh doanh
mặt hàng nào, đối tượng phục vụ là ai,
kinh doanh theo hình thức nào... tức là doanh nghiệp phải hoạch định
được chiến lược kinh doanh của mình từ khâu sản xuất cho đến khâu tiêu thụ
thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh có như vậy mới đảm bảo cho sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp mình.
2.1. Các phương thức tiêu thụ :
2.1.1. Phương thức bán buôn:
Bán buôn là việc bán hàng cho các doanh nghiệp
sản xuất hoặc các doanh nghiệp thương mại. Kết thúc quá trình này, hàng hoá
thành phẩm vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thông. Đặc điểm của phương thức này là số
lượng bán một lần lớn nên doanh nghiệp thường lập chứng từ cho từng lần bán và
kế toán tiến hành ghi sổ sau mỗi nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Phương thức này được tiến hành theo 2 hình thức
sau:
- Hình
thức giao hàng trực tiếp : Theo hình thức này, bên mua cử đại diện đến doanh
nghiệp sản xuất để nhận hàng, doanh nghiệp sản xuất giao trực tiếp cho đại diện
bên mua. Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, đã thanh toán tiền hoặc chấp
nhận nợ, hàng bán được xác định là tiêu thụ.
- Hình
thức chuyển hàng : Theo hình thức này,
căn cứ vào hợp đồng đã ký kết, doanh nghiệp sản xuất bằng phương tiện vận tải
của mình hoặc thuê ngoài, chuyển hàng đến giao cho bên mua ở một địa điểm đã
thoả thuận. Thành phẩm chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Số
thành phẩm này được xác định là tiêu thụ khi nhận được tiền do bên mua thanh
toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán. Chi
phí vận chuyển do doanh nghiệp sản xuất chịu hay bên mua chịu là theo sự thoả
thuận từ trước giữa hai bên trong hợp đồng.
2.1.2. Phương thức bán lẻ:
Bán lẻ là bán hàng trực tiếp cho người tiêu
dùng, người bán giao hàng cho khách và thu tiền của khách hàng. Phương thức bán
lẻ diễn ra ở các quầy hàng nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của dân cư và
được tiến hành theo các hình thức sau:
- Bán hàng thu tiền trực tiếp : Theo hình thức
này, nhân viên bán hàng vừa là người trực tiếp thu tiền, giao hàng cho khách và
ghi hàng đã bán vào thẻ quầy hàng. Cuối ngày hoặc cuối ca nhân viên bán hàng
kiểm kê, nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ hoặc nộp thẳng vào ngân hàng, đồng thời
kiểm kê hàng hoá, xác định lượng hàng bán và lập bảng kê bán lẻ hàng hoá dịch
vụ.
- Bán hàng thu tiền tập trung : Hình thức này
tách rời nghiệp vụ bán hàng và thu tiền tức là việc thu tiền của người mua và
giao hàng cho người mua tách rời nhau. Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền
làm nhiệm vụ viết hoá đơn và thu tiền mua hàng của khách. Khi mua hàng, trước
tiên khách hàng đến bàn viết hóa đơn mua hàng rồi thanh toán tiền hàng, sau đó
đem hoá đơn đi nhận hàng do nhân viên bán hàng giao. Hết ngày nhân viên bán
hàng căn cứ vào hoá đơn bán hàng để xác định lượng hàng đã bán trong ngày và
lập báo cáo bán hàng.
- Bán hàng tự phục vụ (tự chọn): Theo hình thức
này, khách hàng tự chọn lấy hàng hoá, mang đến bàn tính tiền để tính tiền và
thanh toán tiền hàng. Nhân viên thu tiền kiểm hàng, tính tiền, lập hoá đơn bán
hàng và thu tiền của khách hàng. Nhân viên bán hàng có trách nhiệm hướng dẫn
khách hàng và bảo quản hàng hoá ở quầy do mình phụ trách.
- Bán hàng tự động: Là hình thức bán lẻ hàng hoá
mà trong đó các doanh nghiệp sử dụng các máy bán hàng tự động chuyên dùng cho
một hoặc một vài loại hàng hoá nào đó đặt ở các nơi công cộng, sau khi người
mua bỏ tiền vào máy, máy sẽ tự động đẩy hàng ra cho người mua.
2.1.3. Phương thức bán hàng gửi đại lý :
Theo phương thức này doanh nghiệp sản xuất giao
hàng cho cơ sở đại lý, bên nhận đại lý sẽ trực tiếp bán hàng và phải thanh toán
tiền hàng cho doanh nghiệp sản xuất, được hưởng hoa hồng đại lý bán. Số thành
phẩm gửi đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp sản xuất, số thành phẩm
này được xác định là tiêu thụ khi doanh nghiệp nhận được tiền do bên nhận đại
lý thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán hoặc thông báo về số hàng đã bán được,
doanh nghiệp khi đó mới mất quyền sở hữu về số hàng này.
2.1.4. Phương thức bán hàng trả góp :
Theo phương thức này, người mua được trả tiền
mua hàng thành nhiều lần. Số lần trả và số tiền trả trong từng lần là tuỳ theo
sự thoả thuận giữa hai bên mua bán. Ngoài số tiền thu theo giá bán thông
thường, doanh nghiệp còn thu thêm của người mua một khoản lãi do trả chậm.
2.2. Phạm vi hàng bán và thời điểm ghi nhận
doanh thu bán hàng:
2.2.1. Phạm vi hàng bán:
Trong doanh nghiệp sản xuất hàng hoá, thành phẩm
được coi là bán phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Phải thông qua mua bán và thanh toán bằng tiền
theo một hình thức thanh toán nhất định.
- Hàng hoá, thành phẩm bán ra thuộc diện sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Bên bán mất quyền sở hữu về hàng hoá, thành
phẩm và đã thu được tiền hoặc có quyền đòi tiền của người mua.
Các trường hợp xuất hàng đặc biệt được coi
là bán:
- Hàng hoá xuất để thanh toán tiền lương, tiền
thưởng cho công nhân viên, thanh toán thu nhập cho các bên tham gia liên doanh.
- Trường hợp hàng hoá xuất đổi để lấy hàng hoá
khác (còn gọi là bán hàng thanh toán bằng hàng hay còn gọi là hàng hoá đối
lưu).
- Hàng hoá xuất làm quà biếu, tặng thưởng được
trang trải bằng các quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi.
- Hàng hoá xuất dùng trong nội bộ doanh nghiệp,
sử dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kể cả trường hợp xuất
hàng quảng cáo tiếp thị.
- Hàng hoá hao hụt tổn thất trong khâu bán theo
hợp đồng bên mua chịu.
2.2.2. Thời điểm ghi nhận doanh thu bán
hàng:
Theo chuẩn mực số 14 về doanh thu và thu nhập
khác ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của
Bộ trưởng Bộ tài chính thì doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thoả
mãn 5 điều kiện sau:
a. Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro
và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua.
Doanh nghiệp phải xác định thời điểm chuyển giao
phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu cho người mua trong từng
trường hợp cụ thể :
- Theo hình thức giao hàng trực tiếp thì thời
điểm chuyển giao rủi ro và lợi ích gắn liền với
quyền sở hữu cho người mua là sau khi hàng hoá, thành phẩm được giao cho
bên mua, bên mua ký nhận đủ hàng, đã trả tiền hoặc chấp nhận nợ.
- Theo hình thức chuyển hàng thì thời điểm
chuyển giao này là khi bên bán nhận được tiền do bên mua thanh toán hoặc giấy
báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán.
- Theo hình thức gửi đại lý bán thì thời điểm
chuyển giao rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa là khi doanh
nghiệp nhận được tiền do bên nhận đại lý thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.
- Theo hình thức bán lẻ, bán trả góp thì thời
điểm chuyển giao này là lúc giao hàng cho người mua, người mua thanh toán toàn
bộ tiền hoặc thanh toán một phần.
Trong hầu hết các trường hợp, thời điểm chuyển
giao phần lớn rủi ro trùng với thời điểm chuyển giao lợi ích gắn liền với quyền
sở hữu hợp pháp hoặc quyền kiểm soát hàng hoá cho người mua.
b. Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lí
hàng hoá như người sở hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá. Trường hợp
doanh nghiệp vẫn còn chịu phần lớn rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa
thì giao dịch không được coi là hoạt động bán hàng và doanh thu không được ghi
nhận. Nếu doanh nghiệp chỉ còn chịu một phần nhỏ rủi ro gắn liền với quyền sở
hữu hàng hoá thì việc bán hàng được xác định và doanh thu được ghi nhận.
c. Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
tức là đã xác định được tương đối chắc chắn về thời điểm chuyển giao phần lớn
rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người
mua.
d. Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi
ích kinh tế từ giao dịch bán hàng. Trường hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán
hàng còn phụ thuộc yếu tố không chắc chắn thì chỉ ghi nhận doanh thu khi yếu tố
không chắc chắn này đã xử lý xong.
e. Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch
bán hàng. Doanh thu và chi phí liên quan tới cùng một giao dịch phải được ghi
nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp. Các chi phí, bao gồm cả chi phí phát
sinh sau ngày giao hàng thường được xác định chắc chắn khi các điều kiện ghi
nhận doanh thu được thoả mãn.
2.3. Các phương thức thanh toán:
Thực hiện nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá, thành
phẩm, vốn của doanh nghiệp chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ.
Doanh nghiệp mất quyền sở hữu về hàng hoá thành phẩm nhưng lại được quyền sở
hữu một lượng tiền tệ nhất định do bên mua chi trả. Việc thanh toán tiền hàng
có thể tiến hành ngay hoặc trả chậm hoặc trả dần do hai bên tự thoả thuận.
Phương thức thanh toán thể hiện sự tín nhiệm lẫn nhau giữa hai bên mua và bán,
đồng thời nó cũng gắn liền với sự vận động giữa hàng hoá với số tiền vốn , đảm
bảo cho hai bên cùng có lợi.
Hiện nay, doanh nghiệp thường áp dụng 2 phương
thức thanh toán : thanh toán trực tiếp và thanh toán không trực tiếp.
Tags:
Download,
Kế toán bán hàng và công nợ phải thu,
Luận Văn Kế Toán
Ý kiến bạn đọc [ 0 ]
Ý kiến của bạn